|
TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH
Số: 120/CT-TNCN
V.v Quyết toán thuế TNCN năm 2009
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thái Bình, ngày 21 tháng 01 năm 2010
|
Kính gửi: Các Cơ quan chi trả thu nhập
Các Chi cục thuế huyện, Thành phố
Năm 2009 là năm đầu tiên thực hiện Luật thuế TNCN, so với thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao trước đây, thuế TNCN có nhiều điểm mới về phương pháp quản lý thuế nói chung và quyết toán thuế TNCN nói riêng; Năm 2009 cũng là năm Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp thúc đẩy SXKD, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 hướng dẫn việc miễn thuế TNCN theo Nghị quyết 32/2009/QH12 của Quốc hội. Theo đó một số khoản thu nhập được miễn thuế TNCN. Để việc quyết toán thuế TNCN năm 2009 đảm bảo đúng quy định của Luật thuế, Cục thuế Thái Bình hướng dẫn một số điểm cần lưu ý khi quyết toán thuế TNCN năm 2009 như sau:
1/ Đối tượng phải khai quyết toán thuế
Theo hướng dẫn tại Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính, đối tượng phải quyết toán thuế TNCN bao gồm:
- Các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập bao gồm: Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hợp tác xã…không phân biệt trong năm có phát sinh hay không phát sinh việc khấu trừ thuế.
- Các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ, hoặc vừa có thu nhập từ kinh doanh vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công bình quân tháng trên 4 triệu đồng,
- Các cá nhân nộp thuế theo kê khai,
- Cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau.
2/ Về kê khai quyết toán thuế của các cơ quan chi trả thu nhập
Theo hướng dẫn tại Thông tư 160/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính, Khi quyết toán thuế năm 2009 đơn vị chi trả thu nhập không phải kê khai quyết toán thuế đối với phần thu nhập được miễn thuế 6 tháng đầu năm 2009; Chỉ thực hiện kê khai quyết toán thuế đối với thu nhập chịu thuế và số thuế phải khấu trừ phát sinh từ ngày 01/07/2009 đến ngày 31/12/2009.
a/ Đối với các khoản tiền lương, tiền công:
Trường hợp đơn vị chi trả thu nhập theo kết quả công việc, hàng tháng tạm thanh toán tiền lương, cuối năm mới quyết toán thì thu nhập sẽ được xác định theo quyết toán.
Trường hợp vì lý do khách quan tiền lương, tiền công phát sinh từ tháng 01/2009 đến tháng 6/2009 nhưng người lao động nhận được sau ngày 30/6/2009 đến hết ngày 31/12/2009 thì vẫn thuộc thu nhập được miễn thuế.
Đối với các khoản tiền lương, tiền công có nguồn gốc phát sinh từ năm 2008 trở về trước nhưng được chi trả vào 6 tháng đầu năm 2009 thì được miễn thuế, nếu chi trả vào 6 tháng cuối năm 2009 thì phải cộng vào thu nhập chịu thuế của 6 tháng cuối năm 2009.
b/ Đối với các khoản tiền thưởng
Đối với các khoản tiền thưởng theo tháng từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2009 hoặc tiền thưởng của quý I, quý II/2009 được chi trả trong năm 2009 thì được miễn thuế, nếu chi trả sau ngày 31/12/2009 thì không được miễn thuế mà tính vào thu nhập chịu thuế của năm 2010.
Trường hợp trả tiền thưởng theo năm (mỗi năm 1 lần) được chi trả trong năm 2009 đối với người lao động làm việc đủ 12 tháng thì ½ số tiền thưởng cả năm sẽ được miễn thuế, Đối với người làm việc không đủ 12 tháng trong năm thì khoản tiền thưởng sẽ được phân chia tương ứng với số tháng làm việc để xác định số tiền thưởng được miễn thuế và không được miễn thuế.
Trường hợp tiền thưởng của cả năm 2009 được chi trả vào quý 1/2010 thì ½ số tiền thưởng được miễn thuế, ½ số tiền thưởng phải đưa vào thu nhập chịu thuế của năm 2010.
c/Đối với các khoản thu nhập khác (Bằng tiền hoặc không bằng tiền)
Việc xác định các khoản thu nhập khác thuộc thu nhập chịu thuế TNCN thực hiện theo hướng dẫn tại điểm 2,mục I phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC, điều 1 Thông tư 62/2009/TT-BTC, Điều 1 Thông tư 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính.
Các khoản thu nhập khác nếu chi trả vào 6 tháng đầu năm 2009 thì được miễn thuế, nếu chi trả vào 6 tháng cuối năm 2009 thì phải kê khai quyết toán thuế năm 2009.
Trường hợp trong 6 tháng cuối năm 2009 các tổ chức, cá nhân có chi trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho các cá nhân không thuộc đối tượng ký hợp đồng lao động khi thực hiện các dịch vụ có tổng mức chi trả từ 500 000 đ/lần trở lên (nếu cá nhân nhận thu nhập không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại điều 5 Thông tư 62/2009/TT-BTC ngày 27/03/2009 của Bộ Tài chính) đơn vị chi trả có trách nhiệm tập hợp đầy đủ số tiền đã chi trả, số tiền thuế phải khấu trừ tại nguồn để đưa vào quyết toán thuế TNCN năm 2009.
d/ Đối với các khoản thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, tiền bản quyền, nhượng quyền thương mại:
Nếu chi trả các khoản thu nhập này do phát sinh trước ngày 31/12/2009 thì được miễn thuế, không phải kê khai quyết toán thuế ;
Nếu ứng trước các khoản thu nhập này có nguồn gốc của năm 2010 và những năm tiếp theo thì phải kê khai quyết toán thuế năm 2009.
đ/ Đối với các khoản thu nhập từ trúng thưởng: (Xổ số, lô tô, trò chơi có thưởng, thưởng khuyến mại…) Là khoản thu nhập không được miễn thuế, vì vậy các đơn vị có chi trả các khoản tiền thưởng phải khấu trừ thuế, kê khai quyết toán thuế năm 2009 theo quy định.
3/Các khoản giảm trừ được tính khi quyết toán thuế TNCN năm 2009
- Người nộp thuế chỉ được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi đã thực hiện đăng ký cấp MST, có tờ khai đăng ký giảm trừ gia cảnh mẫu 16 / ĐK-TNCN và hồ sơ chứng minh người phụ thuộc theo quy định, Mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân và người phụ thuộc chỉ tính cho 6 tháng cuối năm 2009.
- Đối với các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc nếu đã đóng 1 lần cho cả năm thì kê khai giảm trừ bằng 50% số tiền đã đóng, đối với các khoản bảo hiểm đóng theo tháng thì kê khai giảm trừ theo số thực đóng của 6 tháng cuối năm 2009.
- Đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học chỉ tính theo số chi thực tế trong 6 tháng cuối năm 2009 nếu có đủ chứng từ hợp pháp theo quy định .
4/ Đối với các đơn vị có chi trả thu nhập cho các cá nhân người nước ngoài, cần lưu ý:
- Xác định đúng đối tượng cư trú hoặc không cư trú theo hướng dẫn tại điểm 1 mục I phần A Thông tư 84/2009/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính để áp dụng phương pháp tính thuế và mức thuế suất cho phù hợp;
- Trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng cư trú làm việc tại cơ quan chi trả có nhận thu nhập tại nhiều nơi và tại nước ngoài thì ngoài việc quyết toán thuế TNCN cho phần chi trả tại đơn vị mình, cơ quan chi trả có trách nhiệm đôn đốc và hướng dẫn người nước ngoài lập tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo mẫu quy định.
Trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng cư trú, làm việc tại Việt nam nhưng nhận thu nhập tại nước ngoài do công ty mẹ trả thì phải kê khai đầy đủ phần thu nhập đã nhận tại nước ngoài để quyết toán thuế và nộp thuế theo Luật thuế TNCN của Việt Nam.
II/ Thời gian và nơi nộp hồ sơ quyết toán thuế:
Các cơ quan chi trả có trách nhiệm lập và nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 cùng với nộp báo cáo quyết toán thuế khác cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thuế đơn vị chi trả trước ngày 31/03/2010.( Các đơn vị chi trả thuộc Cục quản lý thì nộp Hồ sơ quyết toán thuế về Cục, Các đơn vị chi trả thuộc các Chi cục thuế huyện, Thành phố quản lý thì nộp Hồ sơ quyết toán thuế về các Chi cục)
Theo hướng dẫn tại ông văn số 90/TCT-TNCN ngày 08/01/2009 của Tổng cục thuế : “Tạm dừng việc nộp tờ khai quyết toán thuế TNCN năm 2009 trong tháng 01/2010 và thực hiện kê khai quyết toán thuế theo mẫu kê khai mới để nộp cho cơ quan thuế từ ngày 01/02/2010”. Vì vậy các Đơn vị chờ mẫu biểu mới ban hành để thực hiện kê khai và nộp quyết toán thuế TNCN năm 2009 theo hướng dẫn của cơ quan thuế; Cục thuế sẽ thông báo kịp thời đến các đơn vị khi nhận được mẫu biểu mới.
III Tổ chức thực hiện
Trong khi chờ Bộ Tài chính ban hành mẫu tờ khai thuế mới, Cục thuế Thái Bình hướng dẫn các cơ quan chi trả thu nhập thực hiện một số công việc sau:
1/Liên hệ với Cơ quan thuế để nhận kết quả đăng ký cấp mã số thuế cho các cá nhân do đơn vị quản lý và chi trả; Phối hợp với cơ quan thuế để xử lý các trường hợp trùng Chứng minh nhân dân hoặc các lỗi khác nên chưa cấp được MST, tiếp tục đăng ký, kê khai để cấp MST cho những cá nhân còn lai, đảm bảo 100% số cá nhân do đơn vị quản lý và chi trả có Mã số thuế để ghi dữ liệu vào tờ khai quyết toán thuế;
2/Tập hợp đầy đủ dữ liệu về thu nhập chịu thuế của tất cả các cá nhân do đơn vị quản lý và chi trả; Thu nhập đã trả cho các cá nhân không thuộc diện ký hợp đồng, số thuế TNCN phải khấu trừ theo hướng dẫn trên để kê khai vào mẫu tờ khai thuế mới do bộ Tài chính ban hành và nộp cho cơ quan thuế trong thời gian quy định;
3/ Theo quy định của Luật thuế TNCN, tất cả các cơ quan chi trả thu nhập dù trong năm có phát sinh hay không phát sinh nghĩa vụ khấu trừ thuế đều phải lập hồ sơ khai quyết toán thuế ; Mọi trường hợp chậm hoặc không nộp hồ sơ khai quyết toán thuế sẽ bị xử lý theo quy định tại Điều 9, Điều 105 luật quản lý thuế, Điều 9 mục 2 Nghị định 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành Quyết định hành chính thuế.
Những nội dung không hướng dẫn tại Công văn này đề nghị các đơn vị căn cứ vào quy định của Luật thuế TNCN và các văn bản hướng dẫn thi hành để thực hiện.Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc xin liên hệ về Cục thuế Thái Bình (Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân số điện thoại: 0363 846 621 hoặc phòng Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế số điện thoại 0363 830 662 ) để được giải đáp cụ thể ./.
Nơi nhận: KT. CỤC TRƯỞNG
- Như trên; PHÓ CỤC TRƯỞNG
- Các phòng thuộc VPC (Đã ký)
- Lưu TNCN,VT.
Dương Thị Tài